PĐĐT ĐỤC THUỶ TINH THỂ

0

ĐAI CƯƠNG

Đục thuỷ tinh thể tuổi già là do sự kết tụ protein gây ra những thay đổi chiết xuất của thuỷ tinh thể, làm tán xạ ánh sáng và giảm độ trong suốt của nó, gây nên giảm thị lực, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù loà ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.

 CHẨN ĐOÁN

  Tiêu chuẩn chẩn đoán:

  •  Lâm sàng

Cơ năng: Nhìn mờ (lớp sương mù), chói sáng, song thị một mắt, cận thị giả, không đau nhức.

  • Khám lâm sàng:
    •  Đo thị lực: từ ST (+)  đến ≤ 10/10
    • Khám trên sinh hiển vi thấy đục các cấu trúc của thuỷ tinh thể từng phần hay đục toàn bộ. có nhiều hình thái đục như: đục nhân, đục vỏ, đục bao.
    • Phân loại độ cứng của nhân qua màu sắc đục thuỷ tinh (Phục vụ cho phẫu thuật Phaco).
    • Cận lâm sàng: những xét nghiệm cận lâm sàng giúp cho xác định tình trạng nhãn cầu, các môi trường trong suốt để tiên lượng kết quả sau phẫu thuật, theo dõi, xác định công suất thuỷ tinh thể nhân tạo. Siêu âm mắt , đo javal,  tính công suất kính.

 Chẩn đoán nguyên nhân:

    • Đục thuỷ tinh thể do tuổi già: thường ở người trên 65 tuổi, không có tiền sử chấn thương hay bệnh lý ở nhãn cầu, hoặc toàn thân, ảnh hưởng đến thuỷ tinh thể.
    • Đục do chấn thương: có tiền sử chấn thương, diện đồng tử có vòng sắc tố.
    • Đục do chuyển hoá thường gặp nhất là do đái tháo đường.
    • Do ngộ độc

Chẩn đoán phân biệt

Ở trẻ em, người trẻ cần phân biệt với các nguyên nhân khác làm cho thấy đồng tử trắng: Ung thư nguyên bào võng mạc, xơ sản sau thuỷ tinh thể ở trẻ sinh non, bong võng mạc bẩm sinh kèm theo loạn sản võng mạc, viêm hắc võng mạc…

ĐIỀU TRỊ

Mục đích điều trị: có 3 mục đích trong điều trị phẫu thuật đục thuỷ tinh thể

  • Điều trị mang tính thẩm mỹ
  • Điều trị phục hồi thị lực, thị giác
  • Điều trị có tính phòng ngừa biến chứng của đục thuỷ tinh thể.

Điều trị đặc hiệu

Điều trị nội khoa: Cho đến nay không có loại thuốc nào phòng ngừa hoặc chữa được đục thuỷ tinh thể mà chủ yếu điều trị bằng phẫu thuật.

Điều trị phẫu thuật là phương pháp hiệu quả nhất hiện nay.

Chỉ định tuỳ thuộc vào các yếu tố: thị lực, tình trạng bệnh lý nhãn cầu kèm theo, nghề nghiệp hoặc nhu cầu về thẩm mỹ.

Hiện nay có 2 phương pháp chính để phẫu thuật:

  • Phẫu thuật lấy thuỷ tinh thể ngoài bao.
  • Phẫu thuật lấy thuỷ tinh thể bằng phương pháp nhũ tương hoá (Phacoemulsification)

Điều trị hỗ trợ:

Kháng sinh tại chỗ 7 ngày, kháng viêm corticoid tại chỗ 10-15 ngày, kháng sinh toàn thân 5-7 ngày.

THEO DÕI VÀ TÁI KHÁM

  • Tái khám ngày thứ 1 và thứ 2 sau phẫu thuật nếu bệnh nhân ngoại trú
  • Tái khám định kỳ 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng sau phẫu thuật
  • Theo dõi tình trạng thị lực, thuỷ tinh thể nhân tạo, nhãn áp, giác mạc, tiền phòng, mống mắt và những triệu chứng bệnh lý tại chỗ toàn thân khác.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phan Dẫn (2004), nhãn khoa giản yếu 1, nhà xuất bản y học Hà Nội trang 265 – 327 Trường Đại học Y khoa Hà Nội (2005), bài giảng Nhãn khoa.
  1. Phan Dẫn và cộng sự (2008), Nhãn khoa giản yếu tập 1, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, trang 265 – 297
  2. Trường đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh (1997), Giáo trình nhãn khoa. Nhà xuất bản Y học trang 197 – 213.
  3. Jack J. Kanski (2003), Clinical ophthalmology a systematic approach, Butterworth Heinemann, New York, 162 – 172.
    6.  Basic and clinical science course, (2000-2001), “Lens and cataract”, American academy and ophthalmology, Section 11, pp 45-47.

PĐĐT Khoa Mắt
Bv Nhật Tân

Comments are closed.