Trẻ hóa bệnh nhân mắc đái tháo đường

0

heo các chuyên gia y tế, bệnh đái tháo đường ở người trẻ có nguy cơ biến chứng nặng hơn người lớn tuổi. Vì vậy, để phòng tránh đái tháo đường cho con trẻ, phụ huynh cần kiểm soát chế độ ăn và cân nặng cho trẻ.

Nhân ngày thế giới phòng chống bệnh đái tháo đường (14/11) năm nay với chủ đề “Đái tháo đường – mối bận tâm của mọi gia đình”, TS.BS Nguyễn Quang Bảy, Trưởng khoa Nội tiết – Đái tháo đường (Bệnh viện Bạch Mai) chia sẻ, trẻ hóa bệnh nhân mắc đái tháo đường đang là vấn đề đáng lo ngại do thời gian gần đây, tỷ lệ trẻ béo phì gia tăng. Thậm chí, có trẻ 14, 15 tuổi đã mắc đái tháo đường.

TS.BS Nguyễn Quang Bảy cũng cho biết, việc điều trị nhóm bệnh nhân này khó khăn hơn người lớn tuổi vì các thuốc uống hạ đường huyết thường ít được nghiên cứu ở trẻ em và trẻ thường tuân thủ điều trị kém, duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt không thể giống như người lớn. Có bệnh nhân 16 tuổi, bị đái tháo đường, cao 1m83, nặng 88 kg, vào viện vì đường máu quá cao. Sau khi điều trị, cân nặng vẫn tăng do chế độ ăn không đảm bảo, đi học thường xuyên ăn thêm.

“Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy đái tháo đường ở người trẻ, biến chứng sẽ tiến triển nặng hơn, thời gian dẫn đến biến chứng sớm hơn và tỷ lệ có biến chứng nhiều hơn so với đái tháo đường ở người lớn tuổi. Do đó, để phòng tránh đái tháo đường cho con trẻ, bố mẹ cần kiểm soát chế độ ăn và cân nặng cho trẻ. Liên đoàn Đái tháo đường thế giới (IDF) cho biết, 50% bệnh nhân đái tháo đường, và 90% bệnh nhân đái tháo đường type 2 là có thể phòng ngừa được bằng thay đổi lối sống, tăng cường vận động, kiểm soát cân nặng và chế độ ăn”, TS.BS Nguyễn Quang Bảy chia sẻ.

Theo IDF, cứ mỗi giờ có thêm hơn 1.000 bệnh nhân đái tháo đường mắc mới và cứ mỗi 8 giây có 1 người chết do đái tháo đường. Hiện nay, trên toàn thế giới, có hơn 425 triệu người đang sống chung với bệnh đái tháo đường. Chi phí y tế điều trị đái tháo đường đang trở thành gánh nặng không chỉ cho bệnh nhân, cho gia đình mà còn cho toàn xã hội.

TS.BS Nguyễn Quang Bảy cũng chỉ ra, theo điều tra dịch tễ của Việt Nam, tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường thường cao hơn gấp đôi so với đái tháo đường (5,4% so với 13,7% theo điều tra năm 2012). Đáng lo ngại, tiền đái tháo đường nếu để diễn biến tự nhiên thì sau 10 năm, 50% sẽ chuyển thành đái tháo đường, 25% vẫn là tiền đái tháo đường và 25% có thể trở về bình thường.

Tiền đái tháo đường là dạng rối loạn đường huyết nhưng chưa đến mức bị đái tháo đường. Có 2 dạng tiền đái tháo đường là tăng đường huyết lúc đói (đường huyết lúc đói dưới 7,0 nhưng trên 5,6 mmol/L) và rối loạn dung nạp glucose (đường huyết đo 2h sau khi uống 75g glucose từ 7,8 đến 11,0 mmol/L).

Nhiều nghiên cứu chứng minh người tiền đái tháo đường đã có tăng cao nguy cơ bị các biến chứng tim mạch và thần kinh, vì vậy hiện nay trên thế giới có hơn 50 quốc gia đã coi tiền đái tháo đường là một bệnh và có chỉ định điều trị nhằm 2 mục tiêu chính, là ngăn ngừa tiến triển thành đái tháo đường và ngăn ngừa các biến chứng tim mạch – thủ phạm chính gây ra tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường. Cho đến nay, có 3 phương pháp chính để can thiệp vào nhóm này là thay đối lối sống; sử dụng thuốc và phẫu thuật.

Trong đó, thay đổi lối sống là phương pháp can thiệp cơ bản, gồm điều chỉnh chế độ ăn và tăng cường tập luyện thể lực để giảm cân. Phương pháp này có hiệu quả rất tốt trong thời gian đầu nhưng lại không bền vững. Do đó, hiện nay người ta đang hướng đến phương pháp sử dụng thuốc đối với nhóm tiền đái tháo đường có nguy cơ cao với các biến chứng về tim mạch, thuốc được sử dụng phổ biến nhất là Metformin. Phương pháp phẫu thuật thắt dạ dày hoặc nối thông dạ dày – ruột được áp dụng đối với nhóm béo phì, có chỉ số khối cơ thể (BMI) trên 34.

Kiểm soát đái tháo đường thai kỳ

TS.BS Nguyễn Quang Bảy chia sẻ, một số điều tra tại các bệnh viện lớn cho thấy, khoảng 6 – 9% những phụ nữ mang thai ở Việt Nam bị đái tháo đường thai kỳ. Đó là những người được phát hiện đái tháo đường lần đầu tiên trong khi mang thai. Những người đã bị đái tháo đường từ trước khi có thai thì không gọi là đái tháo đường thai kỳ mà gọi là đái tháo đường ở phụ nữ có thai. Thông thường 90% trường hợp đái tháo đường thai kỳ sẽ hết sau khi sinh nhưng về lâu dài những người đó sẽ có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 cao hơn người bình thường. đái tháo đường thai kỳ thường xuất hiện từ tuần 24-28 của thai kỳ.

Để sàng lọc đái tháo đường thai kỳ, các bác sĩ sẽ phân tầng nguy cơ. Những phụ nữ có nguy cơ cao như: Đã bị đái tháo đường thai kỳ, tiền sử đẻ con to (> 4.000 gr), gia đình có người bị đái tháo đường, thừa cân béo phì, tuổi trên 35… thì phải sàng lọc ngay lần khám thai đầu tiên. Những người nguy cơ trung bình thì sàng lọc ở tuần 24-28. Những người nguy cơ thấp thì không cần sàng lọc.

Để sàng lọc đái tháo đường thai kỳ, các bác sĩ cũng sử dụng liệu pháp tăng đường huyết, bằng cách cho uống 75g glucose pha trong 250mL nước và tiến hành đo đường huyết tại 3 thời điểm là trước uống, sau uống 1h và sau uống 2h. Những trường hợp có ít nhất 1 kết quả đo đường huyết trước uống ≥ 5,1ml/l, đường huyết sau uống 1h ≥ 10,0 và sau 2h  ≥ 8,5mmol/l được chẩn đoán là đái tháo đường thai kỳ.

Tại Khoa Nội tiết – Đái tháo đường, bệnh viện Bạch Mai luôn có khoảng 10% bệnh nhân nội trú mắc đái tháo đường thai kỳ và mỗi ngày phòng khám của khoa có 15 – 20 bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ đến khám. Nguy cơ của đái tháo đường thai kỳ đối với mẹ và con là rất lớn nếu không được kiểm soát tốt đường huyết. Với những tuần đầu có thể gây sảy thai, thai chết lưu, có nhiều trường hợp hỏng thai liên tiếp, nhiều lần sau đó mới được phát hiện bị đái tháo đường. Một số trường hợp rất đáng tiếc thai đã 37 – 38 tuần bị chết lưu và mẹ bị hôn mê do chỉ số đường huyết quá cao mà không được tầm soát dù người mẹ có nhiều yếu tố nguy cơ cao.

Bên cạnh đó, đái tháo đường thai kỳ cũng có thể gây ra một số biến chứng như dị tật cho thai đặc biệt là dị tật về tim mạch, thần kinh, thai to… Đối với mẹ sẽ là các nguy cơ đa ối, đái tháo đường về sau.

Hiền Minh
baochinhphu.vn

http://soyte.angiang.gov.vn

Comments are closed.